Sang đầu năm 2007, khi được giao nhiệm vụ làm móng bê tông tuyến băng tải ra biển trong thời gian khá ngắn, khoảng 30 ngày. Trên quãng đường có bề rộng khoảng 9m và dài 1,3km này hàng ngày tôi thường xuyên đi lại mỗi buổi 4 lần, cả ngày là 8 lần, cụ thể khoảng cách là: 1km x 8 = 8km, chủ yếu để xem xét các anh em công nhân thi công lắp dựng cốt thép, cốp pha để đổ bê tông. Thực ra công việc không có gì làm vất vả lắm, một phần bởi tính chất kỹ thuật của hạng mục khá đơn giản, một phần chúng tôi đã chuẩn bị tương đối kỹ cho công việc. Trước kia không có con đường nào kéo dài ra vịnh như hiện nay, với thiết kế kè đá và đổ cát, đất lấn ra hơn 1km như hiện tại, con đường bỗng dưng thành bếp cập khá lý tưởng cho các hộ đánh bắt thủy hải sản trong vịnh. Hàng ngày trong quá trình thi công, tôi thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc với những người đi biển về. Nói đi biển cho có vẻ đúng không khí biển, thực ra ở đây, tại vịnh Bái Tử Long và Hạ Long, người dân thường nuôi cá, tôm bè hoặc ngăn chặn những vũng tự nhiên ở các hòn đảo nhỏ ngoài vịnh. Họ thường ra vịnh và vào bờ hàng ngày. Đối với dân thi công chúng tôi, việc đầu tiên là cảnh giác với những mối bất an tiềm tàng với vật tư, bởi đây là con đường độc đạo ra biển, việc thất thoát sắt thép hay cốp pha thép chỉ có thể xảy ra khi bảo vệ lơ là hoặc tệ hơn là chính bảo vệ của mình bán cho người đi thuyền. Tuy nhiên, việc giao lưu với họ là việc nên làm, làm thi công, dân vận là không thể bỏ qua. Thi thoảng họ cũng cho tôi vài con ghẹ vừa vừa, một vài đôi sam to bằng hai bàn tay. Bởi chúng tôi không phải là dân biển, nên những thứ hải sản tươi như thế dù chưa phải là đặc biệt cũng rất ngon lành. Một thói quen thường lệ khác của tôi và cũng là thú vui mới khi được thi công gần biển là bắt hà nấu mì tôm. Hà là động vật nhuyễn thể, có vỏ cứng, luôn gắn mình trên các tảng đá, vì con đường có kè đá hai bên nên chỉ cần bước xuống nước là đã nhìn thấy chúng rồi. Như phần trên đã nói, việc bước xuống nước ở đây nên thận trọng, là vì người đân đã đập vỏ hà và một phần vỏ còn lại sẽ rất sắc. Hồi mới xuống công trường, đồng chí trắc đạc đã phải trả giá bằng một vết xẻ toang máu khá dài ở chân. Người dân ở đây bắt hà rất chuyên nghiệp, họ mang một cái túi đựng, một que có đầu sắt để gõ vỡ lớp vỏ đá vôi, sau đó dễ dàng lấy con hà bỏ vào túi đựng. Tôi nhớ năm 2007, một kg hà có giá khoảng 80.000/kg. Lúc đó nhân công thuê làm cốp pha là 30.000 đ/m2 và lương kỹ sư như chúng tôi là 2,8 triệu cho 1 tháng. Trở lại chuyện xử lý hà của tôi, cuối mỗi giờ chiều, lúc khoảng hơn 4 giờ, sau khi đi lượt cuối xem xét công trình và trở về lán tạm, tôi sẽ cử đồng chí bảo vệ đi đập hà. Với khoảng thời gian 30’, ông ấy sẽ mang về 200gram. Số hà này là rất vừa cho việc nấu cùng với 2 gói mì tôm, một cho ông bảo vệ và một cho tôi. Thú thực đến giờ tôi vẫn nhớ vị ngọt của mì tôm nấu hà bằng một cái nồi đơn sơ, 2 cái bát cọc lệch và 2 đôi đũa được ông bảo vệ thủ sẵn cùng 2 gói mì tôm mỗi ngày mang ra từ lán công trường. Nó hơn bất cứ thứ nào như tôm nấu bầu, cá nấu rọc mùng, nước thịt luộc… Có lẽ nó mang hương vị của biển thuần túy và trong một không gian mẫu mực chỉ trời và màu xanh biển, nó sẽ là món tuyệt hảo. Một thú vui khác nữa là mang đèn đi soi cá, ghẹ, ốc ban đêm. Đèn pin sạc điện của công trường đôi lúc cũng không làm đúng nhiệm vụ bảo vệ, nó có nhiệm vụ đi theo cán bộ đánh bắt tăng gia. Mỗi buổi đi soi của chúng tôi thường kéo dài gần một giờ đồng hồ, men theo các kè đá sát mép nước. Thực sự tôi chưa bao giờ nghĩ con ghẹ lại có thể búng dưới nước nhanh hơn một con tôm như vậy. Nhìn thấy nó, soi đèn vào mắt, nó sẽ bị chói, nếu không nhanh tay để tóm nó, chỉ trong non nửa giây bằng một cử động khó có thể theo dõi, nó đã biến mất trong làn nước mờ mờ. Phải thú nhận là tôi chưa một lần bắt nổi một con ghẹ nào, một phần vì nó không dễ gặp, nhưng chủ yếu là tôi không đủ nhanh để bắt nó. Trong công trường, có một cậu làm cơ khí quê ở vùng biển, nên những con ghẹ mà chúng tôi bắt được là do cậu này ra tay. Khi ở Hà Nội hay đi ra biển vào các kỳ nghỉ, tôi đã ăn rất nhiều những con ghẹ cỡ 4 lạng, 5 lạng nhưng thực sự con ghẹ 1,5 lạng ở đây quá chắc và quá thơm ngon, hẳn là yếu tố tự nhiên 100% đã làm chúng tôi thấy nó thực sự ngon như vậy. Thường mỗi lần đi soi nếu may mắn được 2, 3 con ghẹ, một vài con mực hoặc bạch tuộc nhỏ còn nếu tệ nhất chúng tôi cũng có hẳn một nồi ốc. Ốc ở đây khá đa dạng, nhưng phần đa là ốc đắng, vị đắng nếu ăn quen từ lần thứ 3 thì thấy nó rất ngon. Ban đầu là vị đắng, đi qua cổ rồi thì lại thấy nó thơm và có vị đặc biệt. Nhất là trong đám đông 6, 7 người lúi húi sờ soạng, vứt vỏ loảng xoảng bên nồi ốc nóng và thời tiết lạnh đặc trưng của Bắc bộ.
Không biết tôi sẽ phải kể lể bao nhiêu nữa, vì mỗi công trình, mỗi vùng đất là bao nhiêu câu chuyện thú vị đọng lại và cần phải kể. Tôi sẽ kể chuyện tắm khoáng nóng ở thị xã Cẩm Phả, tắm nước lạnh tập thể trong tiết trời 12 độ C và vô vàn chuyện khác nữa. Như các bạn thấy, mới một công trình thôi, đã có quá nhiều thứ để nói rồi. Rồi một mai, chúng tôi lại bắt đầu một công trình khác, một sự bắt đầu khác và lại là những trang tiếp theo của câu chuyện. Tuy nhiên, câu chuyện ở Cẩm Phả vẫn chưa dừng lại, vì dường như nó chưa lột tả hết tính cách của từng chiến hữu của tôi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét